LỜI NGỎ

Chào mừng các bạn đến với Web Blog của tôi. Tôi lập trang Weblog này để nói về cuộc sống và kiến trúc. Hai khái niệm hết sức trừu tượng, bao hàm cả thế giới xung quanh ta. Rất hy vọng các bạn sẽ thưởng thức và tìm thấy những điều lý thú, bổ ích cho mình và mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của các bạn. Cám ơn rất nhiều!

10 tháng 3, 2009

Chuyện về ngôi nhà cổ 130 tuổi ở miền Tây (Phần 2)


Ngôi nhà cổ 130 năm tuổi ở Bình Thủy (TP Cần Thơ) là một tư dinh lộng lẫy hài hòa mang vẻ đẹp đặc trưng của vùng châu thổ Nam Bộ. Cho đến nay, ngôi nhà từng là địa điểm tham quan hấp dẫn của du khách, là "trường quay" của nhiều bộ phim cổ sử này vẫn còn giữ được vẹn nguyên vẻ đẹp của kiến trúc và những vật dụng quý hiếm bên trong.

Ngôi nhà được xây từ hơn 130 năm trước với muôn vàn công phu chăm chút bởi tay nghề của nhiều đoàn thợ giỏi tuyển khắp miền bắc miền trung, và cả nghệ nhân Phúc Kiến - Quảng Châu (Trung Quốc) về tô đắp. Đây là tư dinh của một thương nhân trí thức: ông Hội đồng Dương Chấn Kỷ nổi tiếng giàu có hào hoa từ nghề buôn bán mễ cốc khắp xứ gạo trắng nước trong. 

Kiến trúc độc đáo của tòa nhà cho thấy tầm cao thẩm mỹ của chủ nhân giữa buổi giao thời thế kỷ XIX-XX , trong sự hòa nhập văn hóa Đông-Tây vẫn giữ được vẻ riêng của nếp sống châu thổ Nam Bộ. 

Toàn bộ tư dinh bố cục cân xứng âm dương với cổng tam quan, sân gạch tàu, năm gian nhà xây trát bằng keo ô dước, hai mái lợp ngói Phước Lộc Thọ kiểu Tam đa, đèn đặt bốn góc Long Ly Quy Phụng dạng Tứ quý, cột kèo gỗ lim đen bóng hai vòng ôm chưa giáp được gắn kết khít khao bởi kỹ thuật mộng ngàm. 

Bên trong ngôi nhà hầu như nguyên vẹn những vật dụng chế tác từ thế kỷ trước như sập gụ, tủ chè, trường kỷ, khánh từ, thành vọng sơn son thếp vàng; những món đồ cổ quý giá nhiều trăm năm tuổi như bàn ghế đời nhà Thanh, bàn ghế mặt ngọc thạch Vân Nam, tách chén nậm rượu thời Minh-Thanh, bình cổ Thượng Ngọc... 

Hàng chục đoàn làm phim đã mượn địa điểm này làm nền cho những bộ phim mang tính cổ sử hoặc huyền thoại như Người đẹp Tây Đô, Công tử Bạc Liêu, Chân trời nơi ấy, Cây tre trăm đốt, Người tình. 

Cuốn sổ lưu niệm gia đình còn ghi dày đặc chữ viết nước ngoài từ các châu Phi Mỹ, Á Âu của vô số các đoàn khách tham quan. Phó Chủ tịch nước Nguyễn Hữu Thọ lưu bút năm 1983 "Mong rằng những tác phẩm này được gìn giữ tốt để bảo tồn tài sản văn hóa quý báu của dân tộc". Nhà báo Pháp P.Sabatier khẳng định "Ngôi nhà họ Dương là một kho báu của nghệ thuật kiến trúc Việt Nam.

Mới đây, được biết ngôi nhà cổ Bình Thủy đã có vài người đánh tiếng hỏi mua với giá một triệu USD, chủ nhân không muốn bán mà chỉ mong lãnh đạo thành phố có chính sách hỗ trợ để cùng trùng tu lại di tích này. 

Ông Dương Minh Hiển - cháu đích tôn của cố Hội đồng Kỷ, người đang quản lý tòa cổ trang cho biết ngay từ những năm đầu sau giải phóng, nhà cổ Bình Thủy đã là tư dinh đầu tiên được ngành Du lịch Cần Thơ hợp đồng làm địa chỉ cho khách đến tham quan. Hợp đồng đã hết hiệu lực từ lâu, mấy năm nay thỉnh thoảng mới có khách nước ngoài biết tiếng ghé tới, vì hiếu khách ông vẫn mở cửa đón tiếp dù nguồn sống đạm bạc của cả nhà vẫn chỉ là hoa lợi thu hái từ mảnh vườn rộng gần một ha. Gần đây UBND TP Cần Thơ đã họp bàn về việc sẽ đầu tư chỉnh trang lại cả một làng cổ trải dài trên tuyến đường hơn hai mươi cây số, trong đó điểm nhấn chính là nhà cổ Bình Châu. 

Tôi nhớ cử chỉ thắp hương khoan thai bùi ngùi của ông trước bàn thờ gia tộc họ Dương tranh tối tranh sáng vương đầy mọt gỗ. Sang năm ông Hiển đã vào tuổi tám mươi. Liệu đến ngày đó tòa nhà cổ Bình Thủy đã trở thành "điểm nhấn" trong các điểm hẹn chính thức của ngành du lịch Cần Thơ hay chưa?

(Theo Tiền Phong - ND)

Chuyện nhặt ở miền Tây - Đất thiêng mùa nước nổi



An Giang được mệnh danh là vựa lúa của Đồng bằng sông Cửu Long. Mảnh đất này còn được biết đến với sự hiện diện của ngôi miếu thờ Bà Chúa Xứ... 

Cù lao ông Chưởng thiếu gì cá tôm:
Từ TP Long Xuyên, quốc lộ 91 chạy song song một bên là dòng sông Hậu, bên kia là biển nước mênh mông chúng tôi đến miền biên ải - người dân nơi đây gọi là vùng đất thiêng. Đi chừng 13 km, tôi không khỏi ngạc nhiên khi biển báo bên đường đề Lộ Tẻ, huyện Châu Thành. Hình như địa danh này tôi đã đi qua trên đường từ TP Hồ Chí Minh xuống An Giang. 

Vừa cười, ông Bảy Tiêm (một người bạn dân An Giang đi cùng) vừa giải thích: Ở miền Tây này, hầu như tỉnh nào cũng có Lộ Tẻ và Châu Thành. Lộ Tẻ được viết gộp của hai từ Lộ là đường đi, Tẻ là rẽ. Vì vậy, những nơi có đường rẽ hay được gọi là Lộ Tẻ, chỉ khác nhau là lộ tẻ đi đâu, ở đường nào mà thôi; Châu Thành cũng vậy, được gộp từ Châu là chu vi, Thành là thành thị. 

Vì vậy, vùng đất nằm bao quanh hoặc ôm lấy thành phố, thị xã của một tỉnh nào đó thường được gọi là Châu Thành. Chưa hết, cách gọi tên trường học trong này cũng khác với ngoài Bắc. Trong khi ngoài Bắc gọi tên Trường THPT Hoài Đức A hoặc Hoài Đức B, thì trong này nhất nhất chữ A hoặc B phải đặt lên trước: Trường THPT A Hoài Đức hoặc B Hoài Đức. Xe chạy chừng được 1 giờ, chỉ sang bên kia sông Hậu, ông Bảy nói: “Nói là đường xa 50 – 60 km, nhưng nãy giờ đi chưa hết tầm nhìn của cù lao Ông Chưởng”. Theo ông Bảy, trước đây, xứ này cá tôm nhiều vô kể. Tại huyện Chợ Mới quê ông, những năm 70 của thế kỷ trước, mỗi lần theo cha ra sông đánh cá mùa nước lũ, ông được giao nhiệm vụ giũ tôm: Một hàng rào bằng tre hoặc lưới cứng (ngoài Bắc gọi là đăng) cắm giăng ngang từ bờ ra. 

Cuối đăng được bẻ cong lại và tại đó, người ta đặt từ 8 đến 10 cái lợp. Trong lợp có hai cái hom, tựa như cái giỏ bắt cua. Sau khi đi vào luồng của đăng, tôm giật lùi chui vào hom. Đơn giản mỗi ngày hai lần sáng và chiều, ông đều đặn giũ được gần một xuồng đầy tôm. Cá thì khỏi phải nói, ngoài những loài cá da trơn, mùa cá linh (một loài như cá bống) đẻ chỉ cần đứng cạnh bờ sông cũng chao được cả rổ...

Bởi vậy, mới có câu ca dao: 

Chiều chiều quạ nói với diều
Cù lao Ông Chưởng thiếu gì cá tôm

“Thời đó cá tôm quá nhiều, nên nhà nào cũng có, bán chẳng ai mua. Thời nay cá tôm cạn kiệt, nhưng đoạn sông Hậu chảy qua đây nổi tiếng bởi những con cá hô cân nặng được tính bằng tạ”, ông Bảy nói. Vốn là dân buôn bán ngược xuôi, ông Bảy có mặt hầu hết những địa phương liên quan đến con sông Tiền, Hậu. Ông kể, cá hô sinh sản ở thượng nguồn sông Mê kông, thường sống ở nơi nước chảy xiết, ăn tạp các nguồn thực vật trong tự nhiên. 

Cá theo con nước xuôi về sông Tiền, sông Hậu. Ở môi trường tự nhiên, cá hô nặng trên 20 kg trở lên là chuyện bình thường. Muốn bắt được loại cá này, mắt lưới phải rộng đến một tấc và chắc chắn, nếu không cá sẽ quẫy rách lưới. Cá hô thịt rất ngon, nấu canh chua với cơm mẻ, bắp chuối là đặc sản ở xứ này. 

Có thời, nhà hàng đặc sản ở Long Xuyên, Châu Đốc thu mua thịt cá hô với giá trên dưới 150.000 đồng/kg, riêng phần đầu thì không dưới 250.000 đồng/kg. Cá hô có thể đạt trọng lượng trên 100 kg/con, con lớn nhất mà ngư dân An Giang bắt được trên sông Vàm Nao nặng hơn 130 kg. Vì vậy, nhà nào bắt được một con, kể như trúng số độc đắc, có thể đổi đời. 

Kinh nghiệm của một kẻ rày đây mai đó theo công việc, ông Bảy chia sẻ: “Cá hô nặng từ trên 1 tạ thịt mới dai ngon, xẻ ra thịt cá có màu vàng như vỏ trứng gà; còn cá dưới 1 tạ thịt màu trắng và không dai. Thường một con cá hô nặng 100kg, khi xẻ ra phần thịt chỉ được chừng 30kg, còn lại là đầu và xương. Ở nhà hàng, tuỳ theo món mà cá hô được bán từ vài trăm ngàn đến tiền triệu một món”. 

Công trình thuỷ lợi vĩ đại nhất miền Tây:
Thị xã Châu Đốc cách Tp Long Xuyên chừng 60km. Mặc dù cửa khẩu của An Giang nằm ở các huyện khác, nhưng Châu Đốc với một phần địa giới sát đường biên Việt Nam – Campuchia nên vẫn mang dáng dấp thị xã vùng biên, kiểu như Móng Cái của tỉnh Quảng Ninh. Khác chăng ở Châu Đốc đường phố nhỏ và ngắn hơn, hai bên đường xen lẫn những công trình cao tầng là các căn nhà cổ nép mình. 

Mặc dù chỉ là thị xã, nhưng tên Châu Đốc có từ thuở con người mới đến xứ này khai cơ lập nghiệp. Nói đến Châu Đốc, không thể không nhắc đến Trấn thủ Thoại Ngọc Hầu - người có công lớn trong việc tạo nên kênh Vĩnh Tế, công trình thuỷ lợi vĩ đại bậc nhất miền Tây. 

Tương truyền, Nguyễn Văn Thoại - tên thật của Thoại Ngọc Hầu, SN 1761 (đời Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát) ở huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam. Thời loạn lạc, ông theo gia đình vào Nam ngụ ở cù lao Dài bên dòng Cổ Chiên, nay thuộc tỉnh Vĩnh Long. Năm 17 tuổi, Nguyễn Văn Thoại đầu quân dưới trướng chúa Nguyễn Ánh. 

Sau nhiều thăng trầm trong binh nghiệp, năm 1817 ông được triều đình cử làm Trấn thủ Vĩnh Thanh, gồm các tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Vĩnh Long và một phần Kiên Giang. Thời đó, vùng này rất hoang vu và nhiều thú dữ, giao thương đi lại khó khăn. Đã vậy, dân vùng này thường bị bọn cướp vùng biên và nạn ngoại xâm từ phía Cao Miên (Campuchia) quấy phá. 

Bởi vậy, một mặt ông chiêu dân lập ấp, một mặt cho đào kênh mương vừa tưới tiêu, vừa làm đường đi lại và phòng thủ biên cương. Trong số đó, nổi bật nhất là kênh Vĩnh Tế. 

Chọn ngày rằm tháng Chạp năm Kỷ Mão (1819), bắt đầu từ bờ Tây sông Châu Đốc, 80.000 dân binh dưới sự chỉ huy của Thoại Ngọc Hầu đã đào bốc hàng triệu khối đất đá song song với đường biên giới Việt Nam – Campuchia, chạy thẳng ra sông Giang Thành (Hà Tiên, Kiên Giang). Công việc đào đắp vô cùng cực khổ, vì đây là vùng đất bưng biền, lam sơn chướng khí lại nhiều cọp beo, rắn rết... 

Sau 5 năm thi công, đổi đắp bao công sức và mạng người là con kênh dài 205,5 dặm (khoảng 91km), rộng 7 trượng 5 thước (25 m) và sâu 6 thước (3m). Nói về lợi ích của con kênh này, Sách Đại Nam nhất thống chí viết: “Từ đấy, đường sông thông, việc biên phòng và việc buôn bán đều được hưởng mối lợi vô cùng”. 

Để ghi nhớ công ơn Thoại Ngọc Hầu, Vua Minh Mạng đã ban thưởng và dựng bia ghi công trạng ông, đồng thời lấy tên người vợ của ông là Vĩnh Tế đặt cho con kênh, vì bà có công lớn trong việc lo toan hậu cần cho việc đào kênh. Không quên những người phu binh đã ngã xuống, Thoại Ngọc Hầu sau đó cho cải táng và làm lễ rước long trọng về chôn cất nơi trang nghiêm. Thoại Ngọc Hầu sau khi mất, được an táng tại núi Sam, cách Thị xã Châu Đốc khoảng 5km.

Truyền thuyết Bà Chúa Xứ:
Tại núi Sam, một quần thể chùa, miếu, lăng tẩm khá cổ kính và trang nghiêm. Ngoài lăng thờ Trấn thủ Thoại Ngọc Hầu và hai bà vợ của ông, cùng mộ của các phu binh tử nạn khi đào kênh Vĩnh Tế, còn có ngôi miếu lớn nhất Việt Nam thờ bà chúa Xứ và ngôi chùa cổ kính. 

Bởi vậy, vùng đất này trở thành nơi sinh hoạt tâm linh cho cả vùng An Giang, thậm chí cả miền Nam bộ với khoảng 3 triệu lượt người thăm viếng mỗi năm. Ông Võ Văn Hồng, Ban quản trị lăng miếu Núi Sam cho biết: “Người dân thập phương đến thăm viếng quần thể di tích này ngày càng nhiều, tiền công đức có năm lên đến 100 lượng vàng”. 

Gắn liền với quần thể di tích này có rất nhiều điều lạ. Giải thích tên gọi núi Sam, có người cho rằng trước đây vốn là biển cả, ngọn núi này trông như hình con Sam nên gọi là núi Sam; cũng có người cho rằng tên gọi núi Sam xuất phát từ hiện tượng trước đây chân núi có rất nhiều Sam; có người còn tưởng tượng mùa nước nổi núi Sam như một con Sam khổng lồ bơi trong biển nước. 

Với miếu thờ Bà chúa, gạt bỏ những truyền thuyết dị bản, câu chuyện tượng Bà gắn liền với 9 cô gái đồng trinh được mọi người nhắc đến nhiều nhất và được gắn kết lưu truyền cho đến ngày nay: Cách đây chừng 200 năm, một bọn cướp đến núi Sam và gặp tượng Bà Chúa ở gần trên đỉnh núi. Nổi lòng tham chúng tìm cách đem đi, nhưng cố hết sức cũng chỉ xê dịch được một đoạn. 

Tức giận, cả bọn rủ nhau đập phá làm gãy cánh tay trái của pho tượng. Sau khi bọn cướp bỏ đi, dân làng với lòng tín ngưỡng đã huy động hàng trăm trai tráng lực lưỡng đưa tượng xuống núi để sửa chữa, nhưng không tài nào di chuyển nổi. Bà Chúa thấy vậy liền đạp đồng vào một người phụ nữ, mách với dân làng muốn đưa Bà xuống núi chỉ cần 9 cô gái đồng trinh đến khiêng. Quả thực, pho tượng vốn quá sức với hàng trăm đàn ông lực lưỡng lại trở nên nhẹ nhàng trên đôi vai của 9 cô gái chân yếu, tay mềm. 

Đến vị trí miếu toạ lạc hiện nay, tượng bỗng nặng trịch không nhấc lên được, người dân nghĩ Bà muốn ngự tại đây nên lập miếu thờ, đó là vào khoảng những năm 1820 – 1825. Sau nhiều lần trùng tu, hiện ngôi miếu được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác nhận: Tượng Bà bằng đá sa thạch xưa và ngự ở ngôi miếu lớn nhất Việt Nam và yếu tố 9 cô gái đồng trinh vẫn được duy trì đến ngày nay trong mỗi lần tổ chức lễ hội.

Theo quy định của Ban quản lý lăng miếu, khách thập phương không được chụp ảnh trong gian chính miếu. Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi, gian chính thờ Chúa Bà được thiết kế cao chừng ngôi nhà 3 tầng, thoáng đãng nhưng không kém phần linh thiêng. 

Mặc dù không phải là ngày chính lễ, vẫn có gần 200 người đang hành lễ với rất nhiều hiện vật. Bởi truyền thuyết lưu rằng, người nào chạm được tay vào bức tượng sẽ gặp nhiều may mắn, thỉnh cầu được linh ứng. Vì vậy, Ban quản lý đã làm hàng rào sắt trước tượng Bà để tránh khách thập phương viếng chạm vào bức tượng và các đồ thờ, gây hư hỏng. 

Mênh mang sông nước miền Tây:
Với những người khách vượt 2.000km đến với Bà, cùng với tài ngoại giao của Bảy Tiêm (ông quen biết khá nhiều lãnh đạo địa phương), ông Hồng phá lệ mở cửa cho chúng tôi vào tận nơi để chiêm bái: Trên bệ cao quá đầu người, tượng Bà cao 1,65m, dáng người ngồi nghĩ ngợi, quý phái vương giả. Theo nghiên cứu của nhà khảo cổ học người Pháp Malleret vào năm 1941, tượng Bà thuộc loại tượng thần Visnu, chất liệu bằng đá Son, được tạc vào cuối thế kỷ thứ VI. 

Nhắc đến Malleret, liên quan đến bức tượng này có một câu chuyện được lưu truyền trong dân gian khá ly kỳ: Năm 1942, thời kỳ thực dân Pháp đang đô hộ nước ta, vào một ngày đầu thu có một người Pháp cùng thư ký vào miếu tự tiện cởi áo Bà ra, ghi chép và phác họa pho tượng. Bà Từ không dám ngăn cản, vội đi báo Hương cả Phạm Văn Hảnh. Nghe tin, ông cả Hảnh liền đến miếu và ra lệnh mặc áo lại cho bà chỉnh tề rồi quay sang làm việc với người khách lạ.

 Đến lúc ấy, người khách lạ mới trình giấy của Chánh tham biện (tỉnh trưởng) tỉnh Châu Đốc giới thiệu ông Malleret - Chủ tịch hội khảo cổ học Hà Nội đi sưu tầm, khảo cổ các cổ vật còn tiềm ẩn ở vùng này, nhưng ông Hương cả vẫn phê bình việc làm phạm thượng của ông Malleret. Nghe qua sự ngưỡng vọng tôn kính của người dân địa phương và các vùng lân cận đối với Bà Chúa xứ, ông Malleret chuyển từ tức giận sang bối rối, sợ hãi và hỏi ông Hương giờ phải làm sao?

 Ông cả Hảnh bảo cứ về trình lại với Chánh tham biện rồi gặp nhau giải quyết sau. Chiều hôm ấy, hai người Pháp là ông Gauthier, Chánh tham biện Châu Đốc và Malleret đi xe con đến nhà Hương cả. Để chuộc lỗi tự ý cởi áo Bà, hai ông tổ chức lễ tạ tội và cúng Bà một con heo, một mâm xôi. Kể từ đó, chuyện phạm thượng không còn xảy ra ở miếu thờ Bà chúa nữa...

(Còn nữa)

Đức Vinh

18 tháng 2, 2009

Titanic không chỉ có tình yêu


     Không hẳn chỉ có tình yêu lãng mạn của chàng Jack ở khoang tàu hạng ba dành cho cô tiểu thư trên khoang hạng nhất.Một Rose đài cát đang rơi vào cuộc hôn nhân sắp đặt để cứu cánh cho gia đình bên bờ vực thẳm.Mang trong trái tim một tình yêu đan xen giữa lề thói phong kiến “chồng chúa vợ tôi”, vị hôn phu của Rose đã kéo theo sau đó một chuỗi cảm xúc hờn ghen,độc đoán,thậm chí cả vũ phu…

     Dù họ có vào vai chính diện hay phản diện ,dù tính cách mỗi nhân vật không ai giống ai nhưng xuyên suốt bộ phim họ đã thể hiện được rất hoàn hảo một thứ,đó là tình yêu!Vâng,và cho dù đây là bộ phim đã đoạt giải,bộ phim đã cũ so với thời điểm hiện tại nhưng cũng không thể không xem lại lần nữa trong ngày Valentine năm nay.

     Nếu lấy chủ đề tình yêu để xem Titanic thì đây là một bộ phim tình cảm tuyệt vời.Những gì đọng lại trong ta không hẳn đã là cảnh chàng Jack cùng Rose dang tay trước mũi tàu trong buổi hoàng hôn,không hẳn đã là những cung bậc cảm xúc được cuốn theo lời dẫn truyện từ một góa phụ(có thể cho là thế theo nhiều nghĩa) được một trong hai mươi chiếc tàu gần đấy quay lại cứu.Người con gái run rẩy trước ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết,cô đã rét run,lập cập không hẳn vì lạnh cóng mà còn là vì trái tim cô hoàn toàn đóng băng khi nhìn Jack tê cóng chìm dần xuống đáy đại dương...

     Điều tôi muốn nói đến đây là những diễn viên phụ,nhưng đoạn phân vai tưởng chừng như không có đất diễn,những giây phút ngắn ngủi,thậm chí chỉ là một câu thoại vẫn để lại điều gì đó đè nặng trong lòng người xem,họ là những diễn viên phụ tuyệt vời!

     Bắt đầu từ cảnh thuyền trưởng phát hiện con tàu sẽ chìm trong vòng một giờ nữa,cảnh hỗn loạn khi thuyền cứu hộ được đưa xuống, ưu tiên dành cho phụ nữ và trẻ em.Trong muôn ngàn sự chia ly vội vã của những gia đình quý tộc khoang hạng nhất, một bà mẹ bế con gái chờ cánh cửa khoang hạng ba mở ra trong vô vọng:

Khi nào mình mới xuống thuyền hả mẹ?
Chờ những người ở khoang hạng nhất xuống hết sẽ đến chúng ta…

Hai mẹ con,hai câu thoại,một hố sâu ngăn cách được lột tả hoàn toàn một cách lạnh lùng tê điếng.

Một quý ông đã từ chối mặc áo phao bằng câu nói:
Chúng tôi nghĩ mình đã ăn mặc chỉnh tề và sẽ ra đi như một quý ông.

     Một đức cha trong cơn hoản loạn vẫn đọc bài thánh kinh cuối cùng,vẫn chạy lên phía cao nhất con tàu với hi vọng kéo dài cuộc sống.Một tay cha vẫn bám lấy nơi chắc chắn,một tay nắm lấy đám con chiên ngoan đạo đang nhắm mắt đón chờ cứu rỗi.Mắt cha xứ vẫn nhắm nghiền …Có phải chăng khi ta ở gần nhất với cái chết thì cho dù ta có là ai,ta sẽ trở về với chính thật con người mình,với bản năng sinh tồn trong mọi hoàn cảnh?!

     Một viên sĩ quan nhận tiền và cho những người đàn ông quý tộc được xuống thuyền cứu hộ,có những người đàn ông nghĩ rằng họ có thể mua sự sống bằng tiền,bằng lòng ích kỷ hèn mạt nhất.Nhìn họ vội vàng lẻn xuống thuyền và lo sợ bị ai đó phát hiện thì chẳng ai nghĩ vừa cách đây vài giờ họ đã ngẩng cao đầu cho đúng tư cách của người trưởng giả .Đồng tiền đã từng khẳng định địa vị của họ và họ cũng đã trơ trẽn hạ thấp nhân cách của mình bằng chính những đồng tiền họ có.Người sĩ quan đã im lặng khi người đàn ông nhét cọc tiền vào túi,người sĩ quan im lặng khi nhìn thấy một quý ông sợ sệt ngồi yên vị trên thuyền,để rồi đến khi con tàu sắp chìm hẳn,trong tâm trạng hỗn loạn,tuyệt vọng,viên sĩ quan đã ném gói tiền ,bắn vào những người đàn ông còn lại đang cố thoát chết bằng mọi cách.Có lẽ việc tốt nhất cuối cùng anh ta có thể làm được là đưa tay cao ngang đầu chào như một người lính rồi tự kết thúc đời mình.

     Dù ta đã từng trót làm điều gì đó hoặc chỉ là gián tiếp sai lầm thì cũng tự điều chỉnh được những điều đó bằng cách giải thoát mình…

     Người sản xuất con tàu Titanic đã chỉnh lại đồng hồ trên tàu cho đúng với thời khắc hiện tại,ông đưa cho Rose chiếc áo phao của mình và chấp nhận cái chết trên chính đứa con mà ông đã đặt hết nhiệt huyết vào đấy.Đứa con tinh thần mà ông đã từng tự hào,tin tưởng rằng sẽ chẳng bao giờ cần dùng đến những chiếc thuyền cứu hộ.Số thuyền không đủ cho một nửa hành khách trên tàu mà lòng kiêu hãnh của ông đã cố tình nhấn chìm họ .

     Viên thuyền trưởng quay trở lại buồng lái khi không thể có câu trả lời cho một thiếu phụ bế đứa bé sơ sinh trên tay:”Tôi sẽ làm gì đây thưa thuyền trưởng?”.Ông im lặng,vô vọng,quayvề nơi dành cho ông và chấp nhận ra đi với con tàu kinh điển nhất trong lịch sử mà ông vừa có,với 26 năm kinh nghiệm vừa phản bội ông trong một giấc mơ tham vọng làm nên lich sử Titanic.

     Những người nhạc công trên tàu,họ xuất hiện mờ nhạt bên các vai chính trong những buổi tiệc tùng ,có thể chẳng ai để ý đến họ ngày từ đầu phim cũng như trong nội dung câu chuyện.Nhóm bốn người họ được lệnh chuyển ra boong để chơi khúc tấu vui nhộn nhất để trấn an hành khách đang bắt đầu hỗn loạn trên tàu.Họ đã chơi khúc nhạc dành cho wedding,và cứ thế,họ chơi hết bài này đến bài khác,cho đến khi ba trong số họ cảm nhận được âm nhạc không thể cứu được họ thoát khỏi cái chết đến gần kề,họ chia tay nhau và dợm bước đi về phía cao ráo nhất còn lại…Người nghệ sĩ duy nhât ở lại nhìn cái chết đang nuốt dần sự sống,rồi điềm nhiên nhắm mắt,đưa cây vĩ cầm lên vai và âm thanh du dương ấy đã đánh thức lòng can đảm vừa tắt của ba người bạn.Họ đã trở lại và cùng chuẩn bị cho sự ra đi bằng chính niềm đam mê âm nhạc của mình.

     Chỉ là những động tác nhỏ,một ánh nhìn tuyệt vọng,một chút cân đo đong đếm giữa sự sống còn,một chút hi vọng kéo dài hơi thở…Tất cả họ đều diễn thật xuất thần dù chỉ là những tình tiết nhẹ nhàng nhưng đầy cảm xúc.

     Titanic đã cũ,lâu rồi không ngồi xem lại xuyên suốt từ đầu như hôm nay.Đây là bộ phim tình cảm đầy tính nhân văn dành cho ngày Valentine,ta có thể thật ấn tượng với Rose và Jack trước mũi con tàu Titanic trong buổi hoàng hôn,thật ấn tượng với chuỗi tình cảm nhẹ nhàng của họ,cũng có thể có đôi chút ghen ghét dành cho vị hôn phu của Rose,nhưng dù anh ta có độc đoán,ích kỷ,xấu xa đến đâu đi nữa thì ta vẫn thấy được bên trong nhưng điều đó là một thứ tình cảm không thể lẫn lộn vào đâu được:đó chính là tình yêu!

     Và ta chợt nhận ra điều gì đó len lỏi thật nhẹ nhàng như một thông điệp được gửi gắm đến người xem rằng:Titanic không chỉ có tình yêu…

(Như Phương)


17 tháng 2, 2009

Tadao Ando - Kiến trúc sư Nhật nổi tiếng thế giới đến Việt Nam

     Kiến trúc sư Nhật Bản nổi tiếng thế giới, Tadao Ando - thần tượng của nhiều kiến trúc sư và sinh viên kiến trúc Việt Nam đã có mặt tại Hà Nội tối ngày 25/11/2008. Điều ngạc nhiên là ông chưa qua một trường lớp đào tạo về kiến trúc nào.
     Tadao Ando (tiếng Nhật: 安藤忠雄; sinh 13 tháng 9, 1941 ở Osaka, Nhật Bản) là một kiến trúc sư người Nhật. Ông là một người theo chủ nghĩa Phê bình khu vực. Ando chưa hề qua một trường lớp đào tạo về kiến trúc nào. Thời trẻ, ông đã một mình thực hiện một chuyến đi từ Đông sang Tây để tự quan sát và học hỏi. Ông đã từng là tài xế, một võ sĩ quyền Anh trước khi là một kiến trúc sư. Năm 1969, ông thành lập hãng kiến trúc Tadao Ando và cộng sự.
     Tối ngày 25/11/2008, tại Trung tâm hội nghị Quốc gia (Mỹ Đình - Hà Nội) không còn một chỗ trống. Các kiến trúc sư trẻ và hàng nghìn sinh viên ngành kiến trúc - xây dựng đã tranh thủ học hỏi các kinh nghiệm và nắm bắt các trào lưu mới trong kiến trúc hiện đại qua cuộc chuyện trò với Tadao Ando.

     Bên lề buổi giao lưu, Tadao Ando cũng đã có cuộc trao đổi với báo giới Việt Nam:

Được biết, ông là người chưa qua một trường lớp đào tạo về kiến trúc nào mà vẫn trở thành kiến trúc sư nổi tiếng thế giới. Vậy ý tưởng đến với nghề kiến trúc của ông được hình thành từ khi nào?

     Tôi còn nhớ năm 1956, khi ấy tôi 15 tuổi, một lần thấy những người thợ đến sửa nhà cho gia đình mình, tôi cảm thấy rất thích thú. Vì thế tôi đã quyết định tìm hiểu sâu về lĩnh vực kiến trúc. Nhưng khác với những người có ý định theo ngành kiến trúc là thông thường sẽ vào các trường kiến trúc chuyên nghiệp thì tôi lại đọc các sách liên quan đến kiến trúc và thường xuyên đi tìm hiểu các kiểu công trình kiến trúc khác nhau. Từ đó tôi tự rút kinh nghiệm cho riêng mình. 

Ai là người có ảnh hưởng lớn tới sự nghiệp của ông?

     Bà tôi luôn khuyến khích tôi phát triển nghề nghiệp một cách tự do. Năm 17 tuổi tôi chơi boxing. Và điều tôi học được từ môn thể thao này là, khi cần thì phải chiến đấu không ngừng để đạt được mục tiêu của mình. Tôi thấy điều này rất tương đồng với tính cách người Việt Nam, luôn nỗ lực không ngừng để thực hiện được mục tiêu của mình. Ai cũng có cơ hội, mọi cơ hội đều nằm trong tim, trong nỗ lực của chúng ta, đó là mục đích chuyến thăm lần này của tôi tại Hà Nội. 

Ông là một kiến trúc sư theo chủ nghĩa phê bình khu vực, chắc hẳn ông phải đi nhiều nước để tìm hiểu kiến trúc ở các nơi? 

     Từ năm 1962 đến năm 1969, tôi một mình thực hiện chuyến đi đến Mỹ, Châu Âu và Châu Phi để tự quan sát và học hỏi. Đây cũng là khoảng thời gian tôi hình thành và hoàn thiện các ý tưởng về tư duy thiết kế trước khi tôi thành lập hãng kiến trúc Tadao Ando và cộng sự năm 1969 tại Osaka. 
     Hiện nay, tôi không chỉ làm việc tại Nhật Bản mà còn ở Mỹ và Mexico, các nước châu Âu (Đức, Pháp) và các nước châu Á (Trung Quốc, Đài Loan...) 

Công trình kiến trúc đầu tiên nào mà tên tuổi của ông gắn với nó và mang lại sự chú ý của quốc tế?

     Đó là tiểu khu phố Rokko Housing I ở Kobe hoàn thành năm 1983. Tổ hợp này nằm trên sườn dốc tới hơn 600 của núi Rokko. Cả dự án là một khối nhà bê tông và kính trắng tương phản hoàn toàn với vách núi đầy cây xanh phía sau. Toàn bộ 20 căn nhà có kích thước 5,4 x 4,8m, mỗi căn đều có ban công nhìn thẳng ra cảng Kobe. Theo tôi, kiến trúc thú vị khi nó có hai đặc tính, rất đơn giản và đồng thời rất phức tạp. 

 Bảo tàng trẻ em Himeji (tỉnh Hyogo, Nhật Bản) là một trong công trình kiến trúc của Tadao Ando.


Theo ông, sự thú vị trong kiến trúc đó mà ông nói có áp dụng được với Thủ đô Hà Nội của chúng tôi không? Ông có gợi ý gì về kiến trúc của thủ đô Hà Nội trong tương lai?

     Để có thể phát triển đô thị, cần phải có một quan điểm triết học, tư tưởng, định hướng rõ ràng. Nhật Bản có dân số già còn dân số Việt Nam thì rất trẻ. Năng lực tiềm ẩn của Việt Nam còn rất nhiều. Những người lãnh đạo cần phải có định hướng cho phát triển đô thị với quan điểm rằng, đô thị mà mình đang lãnh đạo sẽ có diện mạo như thế nào và có sự cân đối như thế nào giữa các phương diện khác nhau.

Ông nổi tiếng với một công trình có thiết kế giống nhà ống tại Việt Nam, ông có ý tưởng gì cho kiểu nhà ống Việt Nam trong điều kiện khí hậu hiện nay?

    Tôi nghĩ bất kỳ ngôi nhà nào trong đô thị cũng phải chú trọng đến yếu tố thiên nhiên và yếu tố cá nhân. Công trình do tôi thiết kế được đánh giá cao vì yếu tố thiên nhiên trong ngôi nhà được chú trọng nhưng lại khá cân đối với các yếu tố khác.
     Khi thiết kế, nhà thiết kế cũng lồng ý tưởng của mình và tìm một ngôn ngữ biểu hiện nào đó để đạt được. Tuy nhiên vẫn cần phải cân bằng giữa yếu tố xã hội và yếu tố tự nhiên nữa. Kiến trúc phải kết hợp yếu tố an toàn, an tâm, thoải mái và hấp dẫn.

Xin cảm ơn ông!

(Lan Hương)

Phong cách kiến trúc của Tadao Ando luôn ấn tượng bởi:
- Cách sử dụng vật liệu, những mảng tường lớn của ông luôn tạo nên những giới hạn rõ rệt cho ngôi nhà. 
- Tính hiện hữu của các công trình, những khối tường nặng, thô ráp của ông gây cảm giác luôn có thể chạm tới, căng mình để đón ánh sáng và gió.
- Sự thông thoáng trong các công trình luôn cho chỉ có ánh sáng bao bọc những người sử dụng.

11 tháng 2, 2009

Tết Nam Bộ xưa: Ba cuộc gặp lớn



Với người miền Nam xưa, mong sang Năm mới giàu có như các phú hộ Sĩ, Phương, Xường, Định hay như công tử Bạc Liêu là một ao ước gì đó thật xa vời so với nếp nghĩ quen giản đơn của họ. Nhưng Tết thì dù nghèo đến mấy, người ta vẫn phải lo cho nó thật thiêng liêng và trang trọng.

Trên tinh thần đó, Tết cổ truyền miền Nam - trước hết là Tết của gia đình, họ hàng, thân tộc. Đã thành tập quán, "tháng Giêng ăn tết ở nhà" nên dù ai ở bất cứ đâu, làm bất cứ nghề gì, cứ năm hết Tết đến cũng đều mong được trở về sum họp gia đình. Tết đã nối gần bao khoảng cách: Người Cà Mau lên Sài Gòn làm ăn, hễ tới ngày Rằm tháng Chạp, đã ngoái cổ bồn chồn ngóng nhìn về quê và bằng mọi giá phải tìm cách trở về.

Theo quan niệm dân gian ở miền Nam, 3 ngày Tết là phải có đủ 3 cuộc gặp gỡ hết sức quan trọng ở ngay trong một gia đình. Trước hết là cuộc gặp với các vị thần linh, không cao xa, huyền bí như ở các đền, miếu mà là 3 vị gia thần: Tổ sư (Tổ nghề), Thổ công (Ông Địa) và Táo quân (hay thần Bếp). Cuộc gặp thứ hai là với những người thân đã quá cố và ai cũng mong là họ sẽ trở về chung vui với con cháu qua mâm cỗ cúng. Cuộc gặp thứ ba là họp mặt gia đình. 

Vì vậy, như ở mọi nẻo đường Việt, Tết Nam Bộ cũng vẫn là ngày hội đoàn tụ, đoàn viên.

Hoa và quả

Trong mỗi gia đình, bàn thờ tổ tiên rất quan trọng. "Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn", đạo lý ấy đã kết đọng lại trong mọi hình thức tưởng niệm bên bàn thờ. Cúng ông bà bao giờ cũng phải trang nghiêm, dù người ta có thể đang túng bấn.

Ở Nam Bộ, Tết về với bàn thờ gia tiên là qua mâm ngũ quả gồm 5 loại trái cây: Mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài và sung; ngụ ý mong Năm Mới được sung túc hoặc chỉ cầu vừa đủ xài. Ngoài ra, người ta còn chưng cúng những loại trái cây có ý nghĩa: Mận, điều, táo (Để mong gạo nếp đầy bồ); lê (Làm việc gì cũng trơn tru, suôn sẻ); lựu (Con đàn cháu đống), đào (Học đâu đỗ đó, thăng quan tiến chức); bưởi (Mong người già khoẻ mạnh, sống lâu); thơm - dứa (Gia đình quyền quí, cao sang, tiếng thơm muôn đời) và quýt, tắc (Tài lộc phát hưng). 

Cuối cùng là quả dưa hấu. Cúng dưa hấu hàm ý xanh vỏ đỏ lòng, mong con người hãy lao động vững chí tự lực cánh sinh. Trái dưa chưng trên bàn thờ thường dán mảnh giấy đỏ viết chữ Phúc (có phước) hoặc chữ Cát (tốt lành) bằng Hán tự. Ngoài ra còn có đĩa trầu, quả cau và bình vôi, tượng trưng cho tình nghĩa mặn nồng, keo sơn theo quan niệm dân gian.

Bánh tét là món ăn truyền thống. Cũng được làm từ nếp, đậu xanh, thịt heo như bánh chưng của miền Bắc nhưng bánh tét được gói bằng lá chuối và tết thành những đòn dài - Cứ 2 đòn cột thành một cặp, với mong muốn một năm mới toàn vẹn đủ đầy, gia đình sum họp, hạnh phúc.

Người miền Nam xa xưa đã biết chơi cây kiểng trong mùa Tết. Cây mai ở miền Nam có thân cứng, nhánh toả mảnh khảnh, gân guốc, hoa màu vàng nở rộ vào tháng Chạp và đầu tháng Giêng âm lịch. Mai mang nét tổng hợp giữa cương và nhu, ngoại diện tuy khắc khổ nhưng nội tâm sâu sắc, lãng mạn. Hoa mai chính là biểu tượng của mùa Xuân tươi trẻ, rạo rực sức sống. 

Sắm Tết ở quê

Cái phóng khoáng và tật ăn chơi ngút trời của dân Nam Bộ liệu có đem lại một diện mạo gì khác cho phong tục mua sắm và đi chợ Tết thời bấy giờ?

Một phần công đầu tiên có lẽ thuộc về mấy ông Hoa kiều Quảng Đông. Một số nhà sưu khảo nói rằng hồi đó, những cửa hiệu tạp hóa (điếm) đã trở thành một phần nhu cầu trong việc mua sắm Tết của người dân miền Nam; bởi họ thích những gì nhanh chóng, tiện lợi mà gần gũi. 

Người Hoa giỏi mua bán, tính toán đã nắm được nhu cầu và ý thích của người tiêu dùng ở miền Nam thuở trước. Bằng chứng: Theo thời gian, chữ điếm mất dần phụ âm đầu, dân khẩn hoang chỉ giữ âm tiết cuối và đọc trại đi là tiệm. Nhưng cũng đừng quên có một cách giải thích khác, giản đơn hơn nhiều mà chưa được kiểm chứng: Người Nam Bộ vốn "làm biếng" trong câu chữ, đọc sao thấy tiện, thấy nhanh là được và đó cũng chính là thói quen sắm Tết của họ.

Cũng theo ký ức nhiều bậc lão niên, những tiệm chạp phô bấy giờ thôi thì bán tả pí lù đủ thứ. Nếu rủng rỉnh tiền đã có phong bánh ngọt, thẻ đường phèn ăn cho mát miệng. Vậy là người dân đất ruộng vườn chẳng cần đi đâu cho xa, cứ gần Tết ra tiệm chạp phô ở đầu kênh, mua một lần là đủ xài suốt mấy ngày đầu năm, từ miếng ăn cho đến phong bao lì xì đỏ chói.

Người dân Nam Bộ quen với cách sống phóng khoáng, hào sảng; họ đâu để ý chi đến chuyện bỏ bạc cắc ra sắm Tết nhiều lần? Tiền, dành dụm một năm do làm ruộng hay đi làm ăn xa là đã quá đủ để mua một lần cho sướng! Tiền, hàng hóa ngày thường, và cả ngày Tết, qua đó đã luân chuyển, xoay vòng và như một mắt xích giúp cho các lưu dân sống nương tựa vào nhau. Nhưng điều cốt lõi nhất là vẫn cần một chữ tín. Người ta nhiều khi mua được hàng Tết thiếu chịu sang được tới tận sau Năm Mới, nhưng một khi đã hứa, là phải trả!

Chiều 23 Tết, người quê nghèo có thể mua từng món hàng mã, từng ký than nướng bánh bông lan, vài cái ống khói đèn để chăm chút mâm cỗ chiều 30. Thể nào người bán cũng dễ dãi cười khà khi phát hiện ra thằng cháu nhỏ mua hàng có lén quệt một miếng đường mật để đưa vào miệng mút vội ngon lành. Nhưng với Tết ở miền Nam, bao giờ người ta cũng cười xòa xí xóa cho nhau.

Cười xòa như khi người ta chèo ghe hay xuồng từ làng này sang làng khác để chúc Tết, cười xòa như khi đi trên cầu khỉ chênh vênh với tấm áo mới tinh khôi, và cười xòa bên chén nước trà tươi thoảng đậm đà tình làng nghĩa xóm… 

(Thúy Tân)